Trương Vĩnh Ký - Nhà bác học của Nam Kỳ xưa
- Phúc Mập
- 4 min read
Xem nhanh:
Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), hay còn được biết đến với tên gọi thân thuộc Petrus Ký, là một trong những nhân vật đặc biệt và gây tranh cãi trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 19. Cuộc đời ông trải qua thăng trầm trong sự giao thoa của hai nền văn hóa Đông - Tây
1. Cậu bé “thần đồng” và hành trình vươn ra thế giới
Sinh ra tại vùng đất Cái Mơn (Bến Tre), Trương Vĩnh Ký sớm bộc lộ tư chất thông minh hơn người khác. Cuộc đời ông bước sang một ngã rẽ lớn khi cha mất sớm, với tính tình ngoan ngoãn và cần mẫn ông được linh mục Tám nhận nưôi và cho đi học chữ quốc ngữ. Sau một thời gian thì linh mục Tám cũng qua đời, linh mục Long đã nhận ông theo hầu và đã cho ông theo học tại Cao Miên (Cambodia). Ở đây có các học sinh của nhiều nước khác theo học bao gồm Lào, Myanmar, trung quốc.

Chính môi trường đa văn hóa này đã nhào nặn nên một “nhà bác học” thực thụ. Với khả năng thiên bẩm, ông thông thạo tới 26 ngôn ngữ (có tài liệu nói hơn), từ các thứ tiếng phương Đông như Hán, Nôm, Khmer, Lào, Thái, Nhật, Hoa… cho đến các ngôn ngữ phương Tây như Pháp, Anh, Ý, Latin, Hy Lạp… Ông được giới học thuật đương thời xếp vào danh sách 18 nhà bác học lỗi lạc nhất thế giới (Savants du Monde).
2. Người “khai sinh” báo chí Quốc ngữ
Đóng góp lớn nhất và không thể phủ nhận của Petrus Ký chính là vai trò tiên phong trong việc cổ súy và phát triển chữ Quốc ngữ.
Gia Định Báo: Ông là tổng biên tập tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhờ ông, chữ Quốc ngữ từ một công cụ truyền đạo đã trở thành phương tiện truyền tải thông tin, văn hóa và tri thức đại chúng.
Di sản đồ sộ: Ông để lại hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực: từ lịch sử, địa lý, ngôn ngữ học đến văn học dân gian (sưu tầm truyện cổ tích, thơ vè). Ông là người có công lớn trong việc dùng “cái mới” (chữ Quốc ngữ) để bảo tồn “cái cũ” (văn hóa dân tộc).
3. Bị phê phán khi làm việc cho Pháp
Đây chính là phần gây tranh luận nhất trong tiểu sử của ông. Petrus Ký sống trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Với vốn kiến thức uyên bác, ông được người Pháp trọng dụng làm thông ngôn, cố vấn và dạy học.

Góc nhìn phê phán: Nhiều nhà sử học chỉ trích ông vì đã cộng tác với thực dân, giúp Pháp thương thảo các hiệp ước không có lợi cho triều đình và dùng tài năng để hỗ trợ bộ máy cai trị.
Góc nhìn thấu cảm: Ngược lại, có quan điểm cho rằng ông đứng ở vị trí “trung gian” với khát vọng dùng văn hóa và giáo dục để nâng cao dân trí, giúp người Việt tiếp cận văn minh phương Tây trong lúc vận nước đã ngả nghiêng. Câu châm ngôn “Ở với họ mà không theo họ” (tuy có nhiều cách hiểu) thường được dùng để nói về tâm thế của ông: mượn phương tiện của Pháp để làm lợi cho văn hóa nước nhà.
4. Những năm cuối đời cô độc
Dù đạt đến đỉnh cao danh vọng về học thuật, những năm cuối đời của Trương Vĩnh Ký lại khá buồn bã và cô đơn. Ông rời bỏ chốn quan trường, sống bằng nghề viết lách và dạy học tại Chợ Quán. Nhưng ông bị những người chia phe phái nói ra vào để giảm lương. Có lẽ câu “Trong thế giới người mù thằng chột sẽ được làm vua. Còn trong thế giới người gù thì kẻ thẳng lưng sẽ bị coi là dị dạng” rất đúng với ông, ông chỉ sống theo thời thế mà thôi.

Qanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
Học thức gửi tên con mọt sách,
Công danh rốt cuộc cái quan tài.
Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,
Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài!
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
Ông qua đời ngày 1 tháng 9 năm 1898 tại Sài Gòn. Mộ phần của ông hiện vẫn nằm ở góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng (Quận 5, TP.HCM) như một chứng nhân lặng lẽ cho một giai đoạn lịch sử đầy biến động.